Cây cầu xây bởi những người Mỹ khóc khi nghe thơ Việt
Bất chấp những đe doạ, áp lực, cáo buộc, những người ở Trung tâm William Joiner vẫn kiên định nhiệm vụ mà họ tự đặt ra và tin tưởng: giới thiệu hình ảnh chân thực về đất nước con người Việt Nam đến công chúng Mỹ.
Không từ bỏ dù muôn vàn khó khăn
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Trung tâm William Joiner là tổ chức đầu tiên của các nhà văn, trí thức Mỹ tìm cách dựng chân dung của đất nước Việt Nam bằng văn hóa và văn học nghệ thuật. Lúc đó là một thời gian khó khăn, không mấy ai dám làm như vậy, kể cả ở phía Mỹ và ở phía Việt Nam. Thưa nhà thơ Kevin Bowen, tôi nhớ rằng có một thời tờ báo rất lớn của nước Mỹ là tờ Boston Globe đã gọi Trung tâm William Joiner là "bàn tay nối dài của cộng sản" vì những gì trung tâm làm để giới thiệu một Việt Nam bên ngoài những cuộc chiến tranh. Ông đã mang cảm giác gì trong những năm tháng đó, khi mà trung tâm của ông phải đối mặt với rất nhiều thách thức từ nhiều người Mỹ và người Mỹ gốc Việt?
Nhà thơ Kevin Bowen: Rất khó miêu tả cảm giác đó. Đó là cảm giác khi mà bạn đã làm hết sức mình để giáo dục mọi người, bạn đã cố gắng thoát ra khỏi cuộc chiến tranh để cho mọi người thấy những gì còn phức tạp hơn cách định nghĩa đơn giản về một cuộc chiến, vậy mà thế giới lại một lần nữa sụp đổ và chia cắt thành hai bên bạn thù. Nhưng với tôi, những người mà người ta cho là kẻ thù của tôi, thì lại là những người bạn tốt nhất của tôi. Tôi đã vô cùng giận dữ, nhưng tôi phải kiềm nén sự giận dữ trong lòng.
Tôi lớn lên trong một gia đình gốc Ireland với những ý thức mạnh mẽ về công lý, quyền biểu đạt, tự do. Nhưng tất cả những giá trị đó đang đứng trước sự đe doạ của những người đồng hương.
![]() |
| Nhà thơ Kevin Bowen. Ảnh: Lê Anh Dũng |
Tôi không muốn điều đó lặp lại với nước Mỹ, Iraq, Afganistan và những cuộc chiến mà chúng tôi đang dính vào khi mà những người dám đứng lên chống lại chiến tranh bị ngăn cản.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Tôi biết rằng có những người Mỹ và người Mỹ gốc Việt đã có những đe doạ với vợ con ông. Ông đã từng phải đổi số điện thoại, chuyển nhà. Liệu có lúc nào ông cảm thấy sợ hãi, tuyệt vọng và muốn từ bỏ cái việc mà thời điểm đó có rất ít người ủng hộ?
Nhà thơ Kevin Bowen: Không bao giờ. Bạn không thể làm như thế vì nếu bạn từ bỏ, mọi thứ sẽ chấm dứt. Nhiều người bảo với tôi rằng ông đã làm hết trách nhiệm rồi, giờ hãy nghỉ ngơi và tận hưởng cuộc sống. Nhưng ngay giờ đây trên thế giới vẫn có những thế lực nguy hiểm, tôi sẽ tiếp tục và hy vọng các con tôi cũng sẽ tiếp tục lên tiếng vì công lý, vì những người đang bị áp bức. Cho đến giờ, tôi biết rằng những gì tôi đang làm là đúng.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Ông và nhiều người Mỹ khác đã kiên định trong mọi thời điểm khó khăn và nguy hiểm, không chỉ đối với bản thân mà còn với gia đình, bạn bè. Nhưng ông rất lặng lẽ, không bao giờ nói về những gì mình đã làm, đến nỗi một số nhà văn Việt Nam đã gọi ông là "Người Mỹ trầm lặng". Và thưa nhà thơ Nguyễn Bá Chung, tôi được biết là thời gian ông ở Mỹ trước khi đến với Trung tâm Wililiam Joiner, ông đang làm quản lý ở một công ty điện toán rất lớn. Ở đó ông có thể hưởng thụ một đời sống rất yên bình, sung túc, nhưng ông đã rời bỏ nó để đi theo một con đường đôi khi đầy bất trắc và vô vọng. Điều gì đã thúc đẩy ông làm như vậy?
Nhà thơ Nguyễn Bá Chung: Tôi cũng như nhiều thanh niên Việt Nam ra đi lúc đó đều có một mục đích là đi học để trở về phục vụ Tổ quốc, không ai nghĩ mình đi học vì địa vị hay sự sang giàu cả. Nhưng một trong những lý do tôi bỏ ngang luận án tiến sĩ là vì tôi thấy nó thật vô nghĩa, làm xong luận án tiến sĩ tôi sẽ đi dạy văn chương Mỹ cho người Mỹ, thế thì có thể đóng góp được gì cho đất nước đau khổ của mình? Thế là tôi đi làm cho một công ty điện toán lớn ở Mỹ.
Sau khi làm ở đó 14 năm, tôi lại cảm thấy cuộc sống của mình thật vô nghĩa. Có thể kiếm được nhiều tiền nhưng tôi chỉ giống như một ông Thiên Lôi thuần tuý lo vấn đề khoa học và chẳng bị ảnh hưởng gì bởi những vấn đề lớn đang xảy ra với đất nước mình, nhân dân mình. Vì thế khi biết Trung tâm Wililiam Joiner cần một người làm công việc dịch thuật và tổ chức giao lưu với trong nước, tôi đã hân hạnh xin vào làm. Mặc dù khi làm vậy, lương của tôi chỉ bằng một phần ba lương nhận được ở công ty điện toán.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Ông đã lựa chọn con đường đến với Trung tâm William Joiner để giới thiệu văn hóa Việt Nam, lúc đó đồng nghĩa với việc đứng về phía những người Việt Nam mà những người phía bên kia gọi bằng một cái tên không thân thiện và thù địch: Việt Cộng. Ông chính là nhân chứng cho những việc mà trung tâm đã làm, cho cả những thách thức và đe dọa từ nhiều phía đối với trung tâm. Ông là người bạn đồng hành của nhà thơ Kevin Bowen trong việc dịch thuật, đưa các nhà văn Việt Nam sang Mỹ để cất tiếng nói của mình trong thời điểm mà giữa hai dân tộc còn tồn tại nhiều hận thù. Vậy lựa chọn của ông, ngoài lý do yêu nước, muốn giới thiệu dân tộc mình, vì hòa bình, còn có lý do nào mạnh mẽ hơn không và những năm tháng đó đã khó khăn như thế nào?
Nhà thơ Nguyễn Bá Chung: Chính vì những nguy hiểm khó khăn mà tôi chứng kiến khi sống và làm việc với nhà thơ Kevin Bowen và trung tâm đã làm tôi vô cùng xúc động. Tôi nghĩ đó mới là cái nước Mỹ đích thực mà tôi muốn từ Việt Nam sang để học hỏi. Nếu không có những người như Kevin Bowen, tôi đã không chọn công việc ở trung tâm.
Áp lực đối với Trung tâm William Joiner lúc đó rất lớn và đến từ nhiều phía. Thứ nhất là về phía cộng đồng Việt Nam ở Boston và sau đó là toàn nước Mỹ, thứ hai là về phía những người Mỹ bảo thủ, họ coi những gì trung tâm làm là đem lại lợi ích cho đối thủ. Với những người bảo thủ thì chỉ có nước Mỹ là nhất, không thể có một hình ảnh tốt đẹp nào khác mà ngược lại với quyền lợi của nước Mỹ, đó là quyền lợi do nhà nước quyết định chứ không phải quyền lợi do dân tộc Mỹ quyết định.
![]() |
| Nhà thơ Nguyễn Bá Chung. Ảnh: Lê Anh Dũng |
Còn nhà văn đầu tiên là Lê Lựu và một người nữa. Vì hai vị không muốn ăn đồ Mỹ nên về căn hộ của tôi ở để ăn đồ Việt Nam. Tôi có công chuyện phải đi ra ngoài, dặn hai ông đóng và chặn cửa thật chặt, chỉ khi biết chắc là tôi về mới được mở cửa. Tôi về mới biết hai vị nghe thấy tiếng nổ lập tức đã nằm bẹp xuống sàn nhà, hoảng hốt gọi điện thoại báo cho ông Kevin biết. Nhưng khi cảnh sát địa phương tới, họ không tìm được viên đạn nào, tiếng nổ có thể đã xuất phát từ một chung cư của người nghèo ở gần đó. Đó thực sự là tình trạng đe dọa trong những bước đầu tiên của trung tâm trong hoạt động giao lưu với nhà văn Việt Nam ở Mỹ.
Cá nhân tôi cũng có một cái ơn đối với trung tâm. Tôi sinh ở miền Bắc, tỉnh Hải Dương, vào miền Nam năm 6-7 tuổi, nên tôi rất tò mò về miền Bắc vì đã đi xa lâu rồi. Và khi gặp được nhà văn Lê Lựu lần đầu tiên, tôi đã tìm được quê hương miền Bắc của mình qua những câu chuyện của ông. Ông có thể ngồi kể chuyện 5-6 tiếng đồng hồ về miền quê, tôi đã nghe say mê và cười nắc nẻ. Tôi đã tìm thấy ở những con người miền Bắc những điều gì đó mà tôi đã đánh mất.
Những việc ông Kevin làm, ngoài ý nghĩa tạo cầu nối, hàn gắn vết thương chiến tranh giữa hai dân tộc, còn có một tác động rất lớn là đem văn học Việt Nam vào văn học Mỹ. Trong khoảng 20-30 thành viên của trung tâm, có những người được giải Pulitzer, có người được giải National Book Awards và nhiều giải thưởng khác. Qua trung tâm, họ đã được tiếp cận những khía cạnh sâu sắc của văn hóa Việt Nam, mà không có trung tâm thì không có cách nào tiếp cận được. Khi tiếp cận được rồi thì thuyết phục vô cùng.
Đó là điều không một cuốn sách hay luận trình nào làm được, mà chỉ có thể qua tiếp xúc trực tiếp giữa con người với con người. Trong suốt thời gian cấm vận, từ 1975 đến 1994-1995, hầu như chỉ có Trung tâm William Joiner là tạo cơ hội để cho những con người đích thực gặp nhau và hiểu được chiều sâu văn hóa của cả hai bên.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Bạn đọc cũng hỏi rằng trong những năm tháng khó khăn của trung tâm, khi họ làm những việc mà trong mắt phần lớn xã hội Mỹ, là có lợi cho kẻ thù, cho Việt Cộng, vẫn có những Mạnh Thường Quân tài trợ cho trung tâm. Vậy đâu là lý do khiến họ bỏ tiền ra?
Nhà thơ Kevin Bowen: Thực tế là sự trợ giúp đến từ những cá nhân trong những tổ chức. Quỹ Rockerfeller đã rất kiên định, họ đã đề nghị được giúp đỡ chúng tôi về mặt pháp lý khi chúng tôi bị kiện tụng, cung cấp thêm tiền cho chúng tôi để làm được nhiều việc hơn. Mỗi người làm việc trong dự án đó đều có lòng tin đối với chúng tôi. Quỹ Rockerfeller đã có thể dễ dàng chấm dứt hoạt động của dự án, nhưng ngược lại, họ đã tăng tiền tài trợ và kéo dài thời gian tài trợ. Đó là một nghĩa cử rất cao đẹp.
Trong giai đoạn đầu, còn có rất nhiều người trong Bộ Ngoại giao giúp đỡ chúng tôi về vấn đề visa, có thể kể đến ông Michael Marine, người sau này đã trở thành đại sứ Mỹ tại Việt Nam. Một người nữa là Thượng nghị sĩ John Kerry, vô cùng ủng hộ việc làm của chúng tôi và đã thuyết phục Bộ ngoại giao Mỹ tài trợ cho một dự án trao đổi của chúng tôi. Ông ấy là một người bạn lớn của Việt Nam, một người ủng hộ nhiệt thành của trung tâm và là một người bạn thân của cá nhân tôi.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Thưa nhà thơ Nguyễn Bá Chung, trong những năm tháng trước khi hai nước bình thường hóa quan hệ, các điều kiện thực sự là rất khó khăn đối với Trung tâm William Joiner và các thành viên. Vậy giờ đây khi hai nước đã bình thường hóa quan hệ, ngoại giao đã đi những bước nhanh và tốt đẹp, trung tâm vẫn còn phải đối mặt với những khó khăn gì?
Nhà thơ Nguyễn Bá Chung: Trước hết, Trung tâm William Joiner không chỉ chú ý đến vấn đề Việt Nam mà chú ý đến tất cả các cuộc chiến tranh mà người Mỹ tham dự. Thách thức lớn của trung tâm giờ đây là làm sao tiếp tục truyền thống của mình với cuộc chiến tranh ở Iraq và Afganistan. Như nhà thơ Kevin Bowen đã nói, hầu như mọi sự kiện xảy ra ở Việt Nam đều đang lặp lại ở Iraq và Afganistan.
Tuy nhiên, nãy giờ chúng ta nói chuyện thì có cảm giác như Trung tâm William Joiner đơn thương độc mã. Với Việt Nam thì có thể đúng bởi hồi đó chỉ có duy nhất Trung tâm William Joiner làm việc đó. Nhưng trong lịch sử Mỹ, Trung tâm William Joiner chính là nằm trong truyền thống tiến bộ của nước Mỹ. Từ khởi thủy nước Mỹ đã có những người rất tiến bộ, luôn phản biện những chính sách mà trí thức và quần chúng Mỹ coi là sai lầm của nhà nước. Ví dụ như Mark Twain, một trong những văn hào vĩ đại nhất của nước Mỹ, là người vô cùng chống chiến tranh, những gì ông viết đến nay vẫn còn nguyên vẹn giá trị. Sau ông còn có rất nhiều cá nhân và tổ chức phản chiến, nhưng chúng ta không được nghe đến nhiều do các phương tiện truyền thông chính thống không đề cập tới. Chỉ những người để ý tìm hiểu thì mới thấy trong lịch sử Mỹ có một truyền thống tiến bộ sâu dày mà Trung tâm William Joiner đang tiếp tục.
Một khó khăn nữa là các luồng chính thống đang ngày càng thống trị các nguồn thông tin ở nước Mỹ. Những năm 1960, có đến 80% người dân Mỹ chống chiến tranh Việt Nam nhờ tác động của những tờ báo lớn do các gia đình độc lập với chính quyền nắm giữ. Bây giờ, đại đa số các phương tiện truyền thông ở Mỹ nằm trong tay 6 đại công ty. Những việc Trung tâm William Joiner làm thường đi ngược lại quan điểm chính thống, trong khi quan điểm chính thống bây giờ đang rất mạnh. Vì vậy việc tiếp tục đấu tranh cho những gì mình cho là lẽ phải, cho hòa bình, để những nước lớn không dùng sức mạnh để đàn áp các nước nhỏ vì lợi ích của mình, tuy trong truyền thống nước Mỹ chưa bao giờ không có người làm, nhưng điều kiện hiện nay đang ngày càng khó khăn hơn.
Từ trái sang: Nhà thơ Kevin Bowen, nhà thơ Bruce Weigl, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và
nhà thơ Nguyễn Bá Chung. Ảnh: Lê Anh Dũng
Văn hóa - con đường hòa giải
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Thưa nhà thơ Nguyễn Bá Chung, ông không phải người tham chiến trong cuộc chiến tranh này, ông là một sinh viên đi học. Ông có thể chọn nhiều cách để hướng trái tim mình về mảnh đất của tổ tiên ông bà, nhiều cách để làm cho người Mỹ hiểu dân tộc Việt Nam hơn, vậy mà ông lại chọn cái cách mà người Việt Nam gọi là "cơm áo không đùa với khách thơ". Ông đã chọn con đường khó là văn chương để giới thiệu dân tộc mình. Điều gì đã thúc đẩy ông chọn cách này, đây có phải cách tối ưu, cách hiệu quả nhất, ảnh hưởng nhất để dựng nên hình ảnh Việt Nam trước người Mỹ không?
Nhà thơ Nguyễn Bá Chung: Câu hỏi của anh liên hệ với lịch sử và văn hoá Việt Nam. Tôi lớn lên trong một gia đình mà sau khi di cư vào Nam đã tiêu tán tài sản nên nghèo chứ không giàu có gì. Nhưng tôi có một bà mẹ đã hy sinh cả đời để nuôi dạy tôi. Hàng tháng bà thường dẫn tôi đi chùa, và bằng một cách nào đó, văn hoá Việt Nam đã từ từ thấm vào con người tôi mà tôi không biết. Chỉ đến khi sang Mỹ, nhất là lần thứ hai khi tôi đã lớn, đã học xong đại học ở Việt Nam, tôi mới thấy chính vốn văn hoá đã thẩm thấu một cách tự nhiên lặng lẽ đó đã giúp tôi đủ tự tin để sống một mình nơi đất khách, không thay đổi văn hoá của mình, mà cũng không bị văn hoá cực mạnh và hấp dẫn của Tây phương làm loá mắt. Rất nhiều người sống trong hoàn cảnh đó, một mình đi học, sẽ cảm thấy rất cô đơn, nhưng tôi với những ảnh hưởng của văn hoá Việt Nam trong mình, không hề cảm thấy cô đơn.
Sau đó tôi quyết định không học tiếp tiến sĩ về văn chương Mỹ mà đi làm, lý do chính là để có được sự tự do trong suy nghĩ. Tôi sợ rằng nếu học xong tiến sĩ văn chương Mỹ, tôi sẽ phải dạy văn chương cho người Mỹ theo kiểu Mỹ, nếu dạy theo kiểu Việt Nam, tôi sẽ bị tố cáo là tuyên truyền cho văn hoá Việt Nam.
Chính vì những ảnh hưởng của văn hoá Việt Nam đó, tôi có một cái nhìn tương đối đặc biệt. Mặc dù công việc ở công ty điện toán đem lại thu nhập cao, nhưng sau mười mấy năm, tôi cảm thấy đó là một sự phí phạm, tôi muốn quay về tiếp cận với những gì sâu thẳm của văn hoá đất nước mình, đồng thời học hỏi văn hoá Tây phương để góp phần nào đó làm phong phú thêm văn hoá Việt Nam.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Nhiều lúc có thể coi Bruce Weigl như một người Việt gốc Mỹ. Ông không phải là một nhân viên làm việc chính thức ở Trung tâm William Joiner nhưng đã gắn bó với công việc của trung tâm từ những ngày đầu. Theo ông, ảnh hưởng của văn học Việt Nam đối với công chúng Mỹ như thế nào, đặc biệt là trong những năm tháng quan hệ hai nước còn rất giá lạnh?
Nhà thơ Bruce Weigl: Đây là một câu hỏi vô cùng khó và phức tạp. Khi tôi bắt đầu cố học tiếng Việt và tham gia dịch tiếng Việt, tôi đã phải lòng những bài thơ. Tôi khâm phục cái cách người Việt Nam viết những bài thơ ngắn mà chuyển tải được rất nhiều ý tứ. Ví dụ chỉ trong một bài thơ nói về nỗi nhớ nhung của một đôi nam nữ bị chia cắt bởi chiến tranh, cả thế giới có thể được miêu tả. Vì tôi là một nhà thơ, một người viết, nên cũng tự nhiên thôi nếu tôi bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những bài thơ như thế và tôi cố gắng viết được những điều như thế trong thơ của mình.
![]() |
| Nhà thơ Bruce Weigl. Ảnh: Lê Anh Dũng |
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Có một câu hỏi của độc giả dành cho cả ba vị khách. Qua những tác phẩm văn học Việt Nam từ cổ điển đến đương đại đã được dịch ra ở Mỹ, các ông nhìn thấy điều gì đặc biệt về tâm hồn, tính cách, suy nghĩ, khát vọng của người Việt Nam?
Nhà thơ Kevin Bowen: Mấy năm trước, tôi gặp nhà văn Nguyễn Huy Thiệp và tôi có nói với ông ấy rằng, tính cách nổi bật nhất thể hiện qua văn học Việt Nam là người Việt Nam sống rất gần gũi với đất đai. Dù ở các ngôi làng ở nông thôn, hay ở những ngôi nhà ở thành thị, người Việt Nam luôn có xu hướng sống gần với đất đai và gần với thiên nhiên. Và các nhà thơ nhà văn Việt Nam thực sự đã thổi sức sống vào thiên nhiên đó.
Nhà thơ Nguyễn Duy khi đến Boston đã giới thiệu rất nhiều những cái giỏ, rổ rá... đựng những nông phẩm, sản vật của quê hương mình và ông nói, đây chính là cuộc sống của tôi, và nhờ thơ ca, tôi có thể làm cho chúng sống dậy.
Và tôi nghĩ thơ ca Việt Nam chính là sự kết hợp của hai yếu tố đó: tình yêu đối với thiên nhiên và tình yêu đối với tâm hồn con người. Có thể lấy ví dụ về những bài thơ của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều mà tôi đã đọc. Chúng giàu sức sống đến nỗi khi thức dậy vào buổi sáng, tôi tưởng như mình có thể nghe được tiếng cho sủa văng vẳng đâu đây.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Cám ơn nhà thơ Kevin. Thưa nhà thơ Nguyễn Bá Chung, ông là một người Việt Nam và đương nhiên sẽ không đọc thơ Việt Nam như người Mỹ. Nhưng ông đã chứng kiến sự thay đổi góc nhìn của các nhà thơ Mỹ sau khi họ nghe các nhà thơ Việt Nam đọc thơ, đọc tiểu thuyết như thế nào?
Nhà thơ Nguyễn Bá Chung: Tôi xin kể câu chuyện về một cựu binh thủy quân lục chiến tên là Joe Bangle. Hồi đó có một đoàn múa rối nước Việt Nam đến thành phố Cambridge gần chỗ tôi ở để trình diễn. Và ông Joe Bangle, một người to lớn, đã đứng lên giới thiệu với quần chúng như thế này, tôi vẫn nhớ rất rõ: "Nếu người Mỹ chúng ta biết trước rằng văn hóa Việt Nam có những điều đẹp như thế này, có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ đến đánh họ".
Người Mỹ khi hiểu được chiều sâu của văn hóa Việt Nam, thái độ của họ đã thay đổi. Và những gì Trung tâm William Joiner đã và đang làm chính là đưa văn hóa Việt Nam vào Mỹ để người Mỹ thấy rằng Việt Nam không phải là một nước nhược tiểu, nghèo nàn, không có gì đáng cho người Mỹ quan tâm và học hỏi nếu như chỉ nhìn bên ngoài, mà đằng sau đó là cả một lịch sử và nội lực to lớn giúp người Việt Nam tồn tại được cho đến ngày nay. Khi hiểu được điều đó, họ kính trọng và muốn tiến gần đến với người Việt Nam như những người bạn.
Ví dụ về thơ. Thơ Việt Nam thật gần với đời thường, mô tả tâm trạng tình cảm chân thực của con người với cuộc sống, quê hương, gia đình, bạn bè... khiến người đọc cảm nhận được dễ dàng. Các nhà thơ Mỹ, trong một xã hội hậu kỹ nghệ, thường làm thơ để phản ánh quan điểm triết lý riêng về cuộc sống, mà người nghe đôi lúc khó mà chia sẻ được. Trong khi đó, những bài thơ Việt Nam hầu như người nào nghe cũng chia sẻ được. Tôi đã nhìn thấy những cựu binh Mỹ khóc khi nghe những bài thơ Việt Nam được dịch ra tiếng Anh.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn Tô Nhuận Vỹ và nữ sỹ Mỹ danh tiếng Grace Paley.
Ảnh Nguyễn Quang Thiều sưu tầm.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Thưa nhà thơ Kevin Bowen, trong câu hỏi của nhiều bạn đọc, và cũng là mối quan tâm của những người theo dõi việc chuyển dịch văn học Việt Nam vào Mỹ, có ý kiến cho rằng giai đoạn đưa các tác phẩm văn học Việt Nam vào Mỹ chỉ để giới thiệu đất nước và văn hóa Việt Nam đã qua rồi và có thể kết thúc. Giờ là lúc giới thiệu những tác phẩm văn học thực sự xuất sắc của Việt Nam. Vậy theo ông, ngoài những vấn đề liên quan đến chiến tranh và hậu chiến, văn học Việt Nam có thể làm gì để tìm được chỗ đứng trong đời sống văn học của người Mỹ?
Nhà thơ Kevin Bowen: Đó là một câu hỏi khó, vì văn học Việt Nam là những gì các nhà văn Việt Nam đã và đang viết. Như Bruce nói, chúng ta không thể bảo các nhà văn phải viết gì, để mong có được những tác phẩm hay. Các nhà văn có nhận thức riêng của họ. Nếu không viết được trực tiếp về một điều gì đó, họ sẽ viết một cách gián tiếp.
Ở Mỹ có thể có nhiều nhà văn viết để thỏa mãn thị hiếu của thị trường, nhưng những gì chúng tôi muốn viết hơn cả vẫn là những vấn đề nhân văn, nhân bản. Và có thể nói, cuộc sống của người Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 là một trong những chủ đề hấp dẫn nhất trong lịch sử.
Việt Nam có một nền văn học độc đáo và cần phát triển một đội ngũ dịch thuật tốt. Nếu quan tâm đến thị trường Mỹ, các bạn có thể tiếp cận những khóa học rất phổ biến ở Mỹ như các khóa học về phụ nữ, gia đình, xung đột chính trị để những người tham gia ở đó đọc và hiểu những câu chuyện về Việt Nam.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Bạn đọc muốn hỏi ông Kevin Bowen, giám đốc trung tâm William Joiner, nơi đã chuyển dịch rất nhiều tác phẩm văn học Việt Nam ra tiếng Anh và xuất bản tại Mỹ, rằng độc giả Mỹ đã đọc và yêu thích những tác phẩm viết về chiến tranh Việt Nam, liệu họ có quan tâm đến những tác phẩm văn học đương đại nói về cuộc sống hiện đại của Việt Nam không? Và trung tâm có ý định giới thiệu các tác giả trẻ của Việt Nam đến với độc giả Mỹ hay không?
Nhà thơ Kevin Bowen: Tôi nghĩ rằng công chúng Mỹ luôn tò mò về những điều đang diễn ra ở Việt Nam. Mỗi khi tôi đến Việt Nam và quay về, mọi người đều hỏi ở đó ra sao. Rất nhiều thanh niên Mỹ cũng đang đến Việt Nam, tôi thấy rất nhiều khuôn mặt của các sinh viên, giáo viên tiếng Anh hay đơn giản là khách du lịch. Bruce nói rằng Việt Nam giờ không có ý nghĩa là một cuộc chiến tranh nữa mà là một đất nước, nhưng tôi cho là Việt Nam đã là một điểm đến hấp dẫn. Tôi cũng rất quan tâm đến những gì các nhà văn Việt Nam thuộc thế hệ thứ 2, thứ 3 sau chiến tranh viết về cuộc sống hậu chiến. Với lịch sử chung của hai dân tộc, tôi cho cũng là tự nhiên khi chúng ta tò mò về những gì đang diễn ra ở đất nước kia.
Tuy nhiên, xuất bản là một ngành khá chậm chạp trong khi công chúng trẻ thì sốt ruột và thiếu kiên nhẫn. May thay, chúng ta đang sống trong thời đại Internet. Vì vậy chúng tôi đang nghĩ đến việc thành lập một trang web song ngữ để có thể tiếp cận với các nhà văn trẻ ở Việt Nam và đưa các tác phẩm của họ đến với công chúng các nước nói tiếng Anh, thay vì chờ đợi 2-3 năm để xuất bản được một cuốn sách. Chúng tôi vốn biết Việt Nam là một đất nước giàu truyền thống, vậy các nhà văn trẻ của Việt Nam đang trải nghiệm gì, đang đổi mới ra sao, đang sáng tạo ngôn ngữ như thế nào, chúng tôi đều rất quan tâm.
Nhà thơ Hữu Thỉnh, nhà văn Lê Minh Khuê và nhà thơ Nguyễn Quang Thiều tại Mỹ năm 1993.
Ảnh Nguyễn Quang sưu tầm.
Đoàn kết vì lợi ích lâu dài cho dân tộc
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Thưa nhà thơ Nguyễn Bá Chung, để nói một lời kết cho cuộc Bàn tròn trực tuyến này, ông muốn nói gì với độc giả Việt Nam, vì ông là một người Việt Nam, cho dù ông có mang bao nhiêu lần quốc tịch Mỹ đi chăng nữa.
Nhà thơ Nguyễn Bá Chung: Cám ơn anh và cám ơn đã mời tôi tham dự cuộc nói chuyện ngày hôm nay. Tôi nhận thấy lịch sử thành văn của Việt Nam trong khoảng 20 thế kỷ đầu tiên có một điểm rất quan trọng là Tam giáo đồng nguyên (Phật - Khổng - Lão và nền văn hóa bản địa). Trong tất cả các cuộc đấu tranh, dân tộc ta luôn đoàn kết. Đó là thời kỳ các nền văn hóa hòa hợp không mâu thuẫn.
Bắt đầu từ thế kỷ 19-20 với sự hiện diện của người Pháp, văn hóa của chúng ta bị phá vỡ, xuất hiện những mâu thuẫn nội tại do sự tiếp thu nền văn hóa có tính cách độc quyền, nhị nguyên của Tây phương.
Theo tôi vấn đề của người Việt Nam hiện thời là: chấp nhận mọi quan điểm khác biệt như thế giới vốn khác biệt, nhưng làm sao tạo được thế vạn nguyên - đồng quy giống như hình vòng tròn bát quái: càng ở xa, vòng tròn càng chia thành nhiều đoạn xung khắc, nhưng càng ở gần tâm, sự xung khắc càng giảm đi. Việc người Việt Nam, cả trong và ngoài nước, cần làm chính là tìm được điểm đồng quy đó, để dù có những sự khác biệt, chúng ta vẫn có một điểm đồng thuận để đóng góp lâu dài cho dân tộc, đất nước. Mỗi chúng ta chỉ có một quỹ thời gian đời người hữu hạn, mọi sự chống đối cuối cùng đều thành vô nghĩa, điều quan trọng là chúng ta làm được gì để cải thiện lâu dài những hoàn cảnh chưa tốt trở thành tốt hơn.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Cám ơn ông. Cuộc bàn tròn của chúng ta có lẽ đến đây là kết thúc. Thưa ba nhà thơ, thay mặt VietNamNet và độc giả Việt Nam, tôi xin cám ơn các vị khách đã tham dự Bàn tròn. Câu chuyện của chúng ta có thể kể nhiều đêm, nhiều ngày, nhiều năm bất tận, nhưng những gì chúng ta vừa nói đây đã nói lên sự thật rằng: cuối cùng con đường của nhân loại đi là con đường hòa bình, văn hóa, là chủ nghĩa nhân văn, sự chia sẻ của nhân quần, không còn hận thù, chiến tranh. Đó cũng là mong muốn chứa đựng trong tất cả các câu hỏi của bạn đọc, những câu hỏi đã được chuyển đến các vị khách cũng như chưa được chuyển do thời gian có hạn. Và những gì hai dân tộc đang làm đã chứng tỏ rằng, sức mạnh của văn học, văn hóa, sức mạnh của lòng yêu hòa bình, khát vọng tự do, dân chủ trong mỗi con người đang vang lên.
Chúc các ông có những ngày thật ấm áp và ý nghĩa ở Việt Nam. Mong rằng những người Mỹ đến với Việt Nam sẽ không còn những mặc cảm, băn khoăn, mong rằng tương lai của hai dân tộc sẽ cùng được xây dựng trên nền tảng lòng tin và lòng yêu hòa bình.


