Quảng bá Việt Nam không phải lãnh địa riêng của tùy viên văn hóa

Hoạt động đối ngoại là sự kế tục, kéo dài của hoạt động đối nội và nhu cầu của hoạt động đối nội. Cái bên trong mà chúng ta không điều chỉnh được thì cái bên ngoài không phải là cái thực chất - ông Phạm Sanh Châu nói.

Mới chỉ có những hòn gạch để tạo dựng khung

Bạn đọc Nguyễn Hữu Bằng ở Khâm Thiên, Hà Nội: Tôi đọc báo có nghe nói hội thảo về năm ngoại giao văn hoá 2009 nhưng sau đó chỉ là sự im lặng, liệu có phải đó chỉ là đề tài cho một hội thảo, chứ không phải là một chiến lược phát triển cho đất nước, và vì là một chiến lược nên cần được tuyên truyền liên tục dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế, nếu là chiến lược thì ai là người triển khai và triển khai như thế nào?

Ông Phạm Sanh Châu: Tôi phải cảm ơn bạn đọc Nguyễn Hữu Bằng đã quan tâm đến ngoại giao văn hoá và có nhận thức rất kịp thời.

Phải nhắc lại để bạn hiểu là hội thảo đầu tiên về ngoại giao về văn hoá bắt đầu từ hội nghị ngoại giao 25, tức là năm 2006 và sau đó năm 2008 chúng ta có hội thảo quốc tế lớn hơn và trong đó chúng ta có một chuỗi 4 hội thảo: hội thảo quốc tế về văn hoá do UNESCO tổ chức và tiếp đến chúng ta có hội thảo với các nhà khoa học, nhà văn hoá và các nhà hoạch định chính sách. Chúng ta có hội thảo với cộng đồng quốc tế là các đại sứ, các nhà ngoại giao.

Hội thảo thứ tư là với các nhà doanh nghiệp, các đối tác hợp tác trên lĩnh vực tuyên truyền quảng bá ngoại giao văn hoá. Như vậy là có một series các cuộc họp để từ đó chúng ta định hình con đường chúng ta đi như thế nào và biện pháp ra sao và sau khi kết thúc với hội thảo ở Hòn Tằm-Nha Trang vào tháng 6/2009.

Trước đó chúng ta đã khai mạc năm ngoại giao văn hoá 2009, năm 2009 là năm thực hiện và trong suốt quá trình thực hiện đó có sự điều chỉnh đi lại để triển khai.

Còn câu hỏi đã có chiến lược chưa thì phải nói rằng tất cả những gì chúng ta đang làm ở đây để tới năm 2010 chúng ta định hình được một chiến lược trong 10 năm (từ 2010-2020) theo chỉ đạo của Thủ tướng chính phủ.

Nếu hỏi trong tay tôi lúc này có chiến lược chưa thì rõ ràng là chưa. Tất cả những hội thảo, những thành công trong năm ngoại giao văn hoá 2009 là những hòn gạch để chúng ta dựng lên khung, đẽo chỗ này, gọt chỗ kia đắp thêm.

Ngay cả khi chúng ta đã hoàn chỉnh chiến lược rồi thì chắc chắn chúng ta vẫn phải tiếp tục điều chỉnh và phát triển bởi theo thời gian, nhu cầu ngày càng thay đổi và chịu sự tác động của toàn cầu hoá, sẽ làm cho chúng ta. Tôi nghĩ Marx đã nói rất đúng, nhận thức là quá trình, và thứ hai, chúng ta phải luôn luôn vươn theo sự đổi mới đó.

Ông Trần Quang Quý, ông Phạm Sanh Châu cùng nhà báo Nguyễn Quang Thiều trong buổi trực tuyến. Ảnh: LAD

Mỗi nhà văn là một nhà văn hóa bằng văn chương

Nhà  báo Nguyễn Quang Thiều: Người ta nói rằng đôi khi các nhà văn, nhà thơ giống như những đại sứ của hoà bình-những người tiên phong cho mối bang giao của hai dân tộc. Tôi lấy một ví dụ cụ thể, chắc ông Phạm Sanh Châu cũng đồng ý rằng, sau cuộc chiến tranh chống Mỹ, trong những điều kiện gắt gao về chính trị, các nhà chính khách chưa thể tới nước Mỹ để nói lên tiếng nói của dân tộc mình, các nhà doanh nghiệp cũng rất khó nhưng các nhà văn đã bắt đầu đặt những bước đi, điều đó tạo ra những lợi thế lớn cho quan hệ hai nước sau này. Và có thể nói rằng các nhà văn Mỹ và nhà văn Việt Nam-những người yêu hoà bình đã tác động rất lớn vào các tầng lớp Mỹ, để chúng ta cuối cùng đi tới bình thường hoá và có quan hệ rất tốt đẹp như ngày nay.

Ông Trần Quang Quý nghĩ thế nào về trách nhiệm của các nhà văn chân chính Việt Nam đối với việc truyền bá hình ảnh Việt Nam?

Ông Trần Quang Quý: Vừa rồi có Hội nghị quảng bá văn học Việt Nam ra thế giới. Đây là vấn đề mà hội nghị về quảng bá văn học Việt Nam ra quốc tế đã bàn. Nhiều người nói rằng mỗi nhà văn chính là một nhà ngoại giao văn hoá bằng văn chương.

Một nhà văn Ấn Độ phát biểu rất cảm động và rất hay là Ấn Độ và Việt Nam chưa bao giờ đánh nhau. Chúng ta đã đến với nhau ngay từ thế kỷ thứ nhất bằng văn hoá, lúc đó là đạo Phật. Ông ta nói điều cuối cùng là có rất nhiều dân tộc hiểu nhau, chính trị không làm được, chỉ có văn học mới mang đến tiếng nói, sự chia sẻ và đồng cảm bởi văn học mang tâm hồn của cả dân tộc, của một quốc gia, lãnh thổ.

Những giá trị văn hoá nhân bản của một vùng đất, quốc gia, con người đó làm cho con người ta dễ hiểu, dễ cảm nhận. Khi đọc văn chương của Mỹ, của Ấn, chúng ta có thể hiểu tính cách con người Mỹ, con người Ấ. Nhưng cần phải có chiến lược, trong hội nghị đó, chị Hàm Anh - tùy viên văn hóa Việt Nam ở Ấn có gợi ra một điều là có lẽ việc này phải có sự ký kết giữa hội nhà văn Việt Nam với Bộ Ngoại giao.

Trước kia, chúng ta bị  thất bại là không có chủ trương lớn từ  Bộ Ngoại giao, sách có thể được gửi sang nhưng không có trưng bày. Khi Bộ Ngoại giao có cam kết ngoại giao văn hóa bằng con đường văn học nghệ thuật có thể có nhiều cách bằng cách dịch văn học Việt Nam ra tiếng nước ngoài hay bạn đọc có thể tiếp xúc qua các ngày hội thơ quốc tế ở một quốc gia. Khi Bộ ngoại giao đưa việc này vào thành một phần nhiệm vụ của mình thì tùy viên văn hóa và các đại sứ quán của ta ở các nước sẽ tốt hơn, để làm được việc đó thì hội nhà văn cũng phải tham gia vào trách nhiệm quảng bá văn hóa và con người Việt Nam ra nước ngoài thông qua tác phẩm của mình, qua trao đổi, thăm hỏi hoặc thậm chí đi sáng tác quốc tế.

Nhà  báo Nguyễn Quang Thiều: Tôi còn nhớ người ta nói trong hội nghị Tehran, trước khi vào hội bàn những người đứng đầu của các nước đồng minh đã ăn tối và nói chuyện về một tác phẩm văn học. Trong lịch sử có nhà thơ, nhà văn danh tiếng kể đã từng là đại sứ của đất nước họ..

Thưa  ông Phạm Sanh Châu, đã có  lần trên báo người ta đưa ra một gợi  ý là có thể  các nhà văn nhà thơ  Việt Nam hay các nhà văn hóa làm tùy viên văn hóa  được không? Tại sao Bộ Ngoại giao không thể làm được điều đó? Ông có nghĩ một ngày nào đó một nhà thơ, nhà văn Việt Nam trong tương lai có thể làm đại sứ hay tùy viên văn hóa của Việt Nam tại các nước khác không?

Ông Phạm Sanh Châu: Tôi xin trả lời là đã từng có trong lịch sử của Việt Nam. Thời phong kiến có nhiều nhà văn, nhà thơ từng làm đại sứ và rất thành công sứ mạng ngoại giao của mình, cứu được đất nước thoát khỏi giờ phút lâm nguy nhất, và lịch sử đã ghi lại rất nhiều các bậc trang nguyên, các nhà bác học lớn như Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trãi...

Trong thời cận đại cũng có nhiều nhà văn tên tuổi hoặc nhà thơ  là nhà thương thuyết lớn, ví dụ như  nhà thơ Xuân Thủy, vừa là nhà ngoại giao, nhà thương thuyết rất lớn. Gần đây nhất phục vụ tại hội đồng chấp hành UNESCO là nhà  thơ Cù Huy Cận, một nhà bác học về văn thơ

Tất cả những cái  đó nói lên rằng lịch sử có rất nhiều và  họ làm rất tốt ở nhiều diễn đàn khác nhau thì không có lý do gì mà chúng ta không làm được. Đặc biệt ngày nay Bộ ngoại giao đang thực hiện một chính sách toàn diện, ở đối tượng ngoại giao đảng, ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân. Trên cả ba lĩnh vực ngoại giao kinh tế, ngoại giao chính trị và ngoại giao văn hóa và cả trong công tác người Việt Nam ở nước ngoài, chúng ta có thể và hiện nay chúng ta có thể.

Ở đây tôi chỉ nói thêm, các nhà văn, nhà thơ đi làm đại sứ thì chắc hẳn họ phải đào tạo thêm về ngôn ngữ - bởi nếu họ không có ngoại ngữ thì không thể truyền tải ra bên ngoài được, những kỹ năng của ngành ngoại giao. Tôi nghĩ rằng hoàn toàn có thể. Chính vì vậy, gần đây Thủ tướng đã cho phép mở rộng các tùy viên văn hóa lấy từ bộ văn hóa đi làm tại các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài, đó là xu hướng mở tất yếu.

Nhà  báo Nguyễn Quang Thiều: Chúng tôi hy vọng các nhà văn, các nhà văn hóa trong tương lai có thể tham gia trực tiếp vào công việc ngoại giao, có thể là tùy viên văn hóa, đại sứ...điều đó cho thấy một thực tế là chúng ta đang tham gia vào một chiến lược lớn, không chỉ Bộ Ngoại giao mà của cả nhà nước, nhân dân để xây dựng hình ảnh của chúng ta.

Không xây dựng hình ảnh đẹp trong nước thì làm sao ra ngoài?

Thưa  ông Phạm Sanh Châu và ông Trần Quang Quý, cụm từ  ngoại giao văn hóa, chúng ta luôn nghĩ  đến hình ảnh chúng ta mang văn hóa ra khỏi biên giới, nhưng có một điều quan trọng là  chúng ta làm ngoại giao văn hóa ngay chính trong biên giới nước ta. Điều này tôi cho là điều vô cùng quan trọng.

Chúng ta mang ra nước ngoài một cách có chọn lựa. M ột người có thế nào  đi chăng nữa vẫn biết  ý thức hành động của mình, hành động ứng xử trước tất cả  bạn bè nước ngoài nhưng ở trong nước, sự tùy tiện, vô văn hóa, hủy hoại môi trường thiên nhiên, tham gia giao thông thiếu ý thức-đấy là một hiện thực ở nước ta.

Một hiện thực nưa cho thấy chúng ta vào bên trong một căn phòng khánh tiết của Bộ ngoại giao, một nhà hàng, một khách sạn hay một rạp hát thì bên trong rất đẹp... nhưng khi bước ra khỏi đó thì mới thấy mọi điều thật khác, có quá nhiều điều phiền muộn làm cho những người nước ngoài phải kêu lên.

Theo ông Phạm Sanh Châu, chiến lược này có  được nói đến hay không bởi theo tôi  nó vô cùng quan trọng vì nếu một hành động mắc lỗi ở nước ngoài có thể được châm chước nhưng hành động đó diễn ra ngay chính trên đất nước mình dễ gây phản cảm mạnh mẽ hơn, dễ gây ấn tượng xấu hơn, vậy theo ông quan điểm thế nào?

Ông Phạm Sanh Châu: Theo quan điểm của cá nhân tôi, câu trả lời là có vì suy cho cùng về mặt  lý thuyết hoạt động đối ngoại là sự kế tục, kéo dài của hoạt động đối nội và nhu cầu của hoạt động đối nội. Cái bên trong mà chúng ta không điều chỉnh được thì cái bên ngoài không phải là cái thực chất

Nhưng ở đây chúng ta phải phân vai ai làm việc gì, như tôi đã nói ngay từ phiên bắt đầu của cuộc thảo luận này thì ngoại giao văn hóa phải có cả ngoại giao và văn hóa. Ngoại giao phải làm nhiệm vụ gì  và lĩnh vực văn hóa làm nhiệm vụ gì thì  chúng ta phải phối hợp.

Như nhà văn  đã nói và tôi cũng đồng ý là chúng ta phải tập hợp tất cả mọi người ở đây không chỉ  có Bộ Ngoại giao hay Bộ Văn hóa, hay không phải hội nhà văn, hội mỹ thuật mà tất cả từng cá nhân một góp phần tạo dựng hình ảnh một dân tộc. Và những người như chúng tôi mang hình ảnh dân tộc đó ra bên ngoài.

Nếu không ai tạo dựng được, chỉnh trang để có một hình ảnh đẹp thì  chúng tôi không thể mang nó ra bên ngoài được. Và chúng tôi không phải chỉ mang cái đẹp không thôi mà có những cái xấu, khuyết tật mà chúng ta không điều chỉnh thì đến một ngày nào đó sẽ lộ ra, làm xấu đi cái mà chúng tôi nỗ lực tuyên truyền.

Tôi đồng ý là  chúng ta còn rất nhiều thứ cần phải bàn, cần phải suy nghĩ và cần phải điều chỉnh. Nhưng câu chuyện đối với tôi ở đây là dường như ai cũng ý thức được điều đó nhưng câu chuyện đặt ra là chiến lược thay đổi như thế nào và bước đi giải pháp là gì, đó là cái rất khó.

Tôi nhớ rất rõ  một câu có một đồng chí lãnh đạo đã nói nhận thức là một, quyết tâm tính 10, biện pháp tính 100.

Ngay cả hành vi ứng xử trong giao thông hay hành vi ứng xử kiềm chế  nói tục, chửi bậy hay xả rác.. đòi hỏi phải có  sự giáo dục đưa vào nhà trường phải có  hệ thống từ cơ sở và cả chế  tài.

Chính vì vậy, có  hai điều mà bà đại diện UNESCO đã nói với  tôi khi đến Việt Nam làm bà cảm thấy không thú vị lắm, yếu tố thứ nhất là tại sao đi đâu mà mọi người cũng bấm còn, bà nói có lẽ phải có một dự án của UNESCO về sự bấm còi và gầm rú xe cộ của Việt Nam và hành động vứt rác bừa bãi, tại sao chỗ nào cũng xả rác được. Đó là điều chúng ta cần phải tính đến nhất là khi chúng ta chuẩn bị đại lễ 1000 năm Thăng Long.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Điều chúng ta đang nói trở lại với phát biểu đầu tiên là yếu tố quan trọng nhất vẫn là con người.

Vừa rồi tôi viết  bài, "Nỗi xấu hổ trên sân bay quốc tế Nội bài". Đó là câu chuyện của năm 2009, không phải 10 hay 20 năm trước. Nội Bài là nơi nhìn thấy hình ảnh phát triển kinh tế, mở rộng ngoại giao, nhưng ở đó những người lớn tuổi, trung tuổi, trẻ tuổi đều ngồi ăn hạt hướng dương, ăn kẹo bánh vứt đầy vơ hạt hướng dương, vỏ bánh kẹo ra. So với vài chục năm trước, hình như ở đó không có gì thay đổi.

Chúng ta đang nỗ lực thay đổi về  học thuyết kinh tế, nhưng nỗ  lực về thay đổi con người còn quá  ít. Nó không phải của một người quá nhiều tuổi, để nói rằng là thói quen của họ. Không phải là người như chúng tôi để nói rằng việc học hành chưa đến nơi đến chốn. Ở đó là những thế hệ rất trẻ, có quá nhiều điều kiện học tập, hơn hẳn thế hệ chúng ta.

Có  thể một người Việt Nam nhếch nhác trên đường phố Paris không quan trọng bằng khi một người nước ngoài bước vào thấy sự vô ý thức, kỉ luật, thấy sự sống cẩu thả của những người ngay cửa ngõ quốc tế. Thưa nhà thơ Trần Quang Quý?

Nhà thơ Trần Quang Quý: Tôi rất buồn về điều này. Tôi đã có lần viết cho VietNamNet về sự nhếch nhác ở cửa khẩu Lạng Sơn. Cửa khẩu là gương mặt quốc gia, khi người nước ngoài bước vào họ thấy ngay.

Bên phía Trung Quốc họ  làm sạch sẽ, hoàng tráng, bên Việt Nam thì nhếch nhác, có cái nhà vệ sinh thì hỏng, để biển  "đang sửa chữa". Không biết khách nước ngoài, ngay cả người Việt Nam đến làm thủ tục thì họ đi vệ sinh thế nào? Đường sá bụi bặm, sắt thép lung tung.

Nếu chúng ta cứ kéo dài mãi thì tạo thói quen về sự nhếch nhác, tùy tiện, tủn mủn.

Ngay việc đó cũng nhiều người bàn đến trong phát triển kinh tế. Nếu không cẩn thận thì biến thành kẻ làm thuê, văn hóa nô bộc. Ngay trong đầu tư, miếng đất ngon thì nhường cho đầu tư nước ngoài. Đất canh tác, đất đẹp thì nhường cho sân golf, và tự hào về nhân công rẻ.

Lợi nhuận so với công sức đổ ra là thấp, mà còn tạo ra tâm lí làm thuê, không có ý chí vươn lên làm chủ.

Nhiều người nói về  giao thông thì ồ lên, vì sự hỗn loạn, tắc đường, rác xả bừa bãi, quảng cáo linh tinh trên cột điện, nhà chờ xe buýt. Cứ ra Đinh Lễ là mua được sách in lậu. Lẽ là bắt được ngay, nhưng tôi không hiểu tại sao lại thế. Có cuốn sách trong 1 tuần, in lậu đến mấy phiên bản.

Rồi ở gần nhà  văn hóa thanh niên, hai bên đường là những người nghiện, gái mại dâm nằm dặt dẹo trên ghế đá. Rồi người ta đi tiểu bậy công khai.

Ngay chỗ Văn Miếu, một di tích văn hóa linh thiêng, nhưng người ta vẫn tiểu bậy ở đó. Mà chuyện này từ nhiều thập kỉ, khi người ta kêu là khi hôn nhau thì chui vào bụi rậm, còn tiểu bậy lại ngay ngoài đường. Đây là chuyện của nhiều ngành, đặc biệt là giáo dục, bao gồm cả môi trường gia đình.

Văn hóa là xây dựng trong cả quá trình, nhưng có những điều phải cưỡng chế, chứ chờ tự giác là rất khó.

Như trước đây, mức sinh giảm rất tốt rồi, đến năm 2000, mỗi gia đình chỉ  có 1 - 2 con. Người ta tưởng như thế là đạt đến sự tự giác của con người. Nhưng không phải. Trước có có biện pháp cưỡng chế như phạt thóc ở nông thôn, hoặc không bổ nhiệm đối với công chức.

Các tổ chức quốc tế cho rằng là vi phạm quyền sinh sản của phụ  nữ. Khi đó, ta sửa đổi pháp lệnh. Người dân tưởng là cứ được đẻ tùy theo sức của mình, lập tức dân số bùng lên.

Không phải có tùy viên văn hóa là làm được hết

Nhà  báo Nguyễn Quang Thiều: Qua những phát biểu vừa rồi, chúng ta thấy rằng cái quan trọng nhất là con người, và nhìn vào vốn con người của chúng ta hiện nay thì không nhiều lắm.

Nguyên Phó  Thủ Tướng Vũ Khoan từng có  lần chỉ ra rằng, vốn ngoại giao văn hóa của những người làm ngoại giao lại không nhiều. Tôi không hiểu việc đào tạo các cán bộ  ngoại giao có thay đổi gì  chưa, nhưng đến nay vẫn là những người thông thạo một ngoại ngữ nào đó, có hiểu biết những nguyên tắc nào đó mà thôi, còn vốn hiểu biết rộng rãi thì chưa nhiều.

Thực tế  cho thấy những người của Chính phủ Mỹ đến bàn việc, khi quan hệ 2 nước còn rất căng thẳng, họ đã luôn dùng văn hoá Việt Nam để đối thoại với người Việt Nam như trích dẫn Truyện Kiều hoặc tác phẩm văn học cổ

Nhưng ngược lại, hình như những nhà ngoại giao của chúng ta đến với các nước, nhất là  những nước còn có nhiều vấn  đề, thì không có được  điều đó. Không phải anh ta phải là nhà văn, nhà thơ, nghiên cứu văn hóa, mà cần một người khác.

Ông Phạm Sanh Châu, ông có thể nói là chúng ta chưa chú ý đến đào tạo cán bộ ngoại giao, và hình như còn bị nghiêng về một phía thuần túy ngoại giaohình thức chứ chưa phải ngaoij giao bằng sự lan toả văn hoá trong con người chúng ta?

Ông Phạm Sanh Châu: Trong lịch sử Việt Nam đã có nhiều nhà ngoại giao sử dụng văn hóa để thành công. Anh nói Clinton khi thăm Việt Nam đã lẩy kiều, Mỹ mang dàn nhạc giao thưởng New York sang đây.

Chúng ta cũng làm như  vậy, vì nếu không có sức mạnh về văn hóa thì chúng ra không thành công. Sức mạnh văn hóa là  khả năng thuyết phục, tạo ra sức mạnh mềm.

Trong chiến tranh, ta đã kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời  đại - sự ủng hộ của bạn bè ở Mỹ. Đó là nhờ công tác vận động của chúng ta. Trong đó, phải sử dụng văn hóa để tuyên truyền, thuyết phục.

Mỗi giai đoạn, ta có  sứ mệnh lịch sử riêng. Hội nghị 25 của Bộ Ngoại giao quyết định phải đưa ngoại giao văn hóa thành trụ cột trong chính sách đối ngoại Việt Nam. Vì thế, tôi hiểu được là chưa đào tạo đầy đủ nội hàm văn hóa trong từng con người ngoại giao. Do đó, phải mở một loạt lớp tập huấn cho cán bộ.

Chúng tôi mời GS Phan Huy Lê nói về thành Thăng Long, mời GS Nguyễn Chí  Bền nói về giá trị quan họ. Chúng tôi đào tạo liên tục để các nhà ngoại giao tiếp xúc đầy đủ.

Trước kia họ học về quan hệ quốc tế, và chỉ có quan tâm để khẳng định quan hệ chính trị tốt. Sau đó, do nhu cầu kinh tế, họ hiểu hơn về ngoại giao phục vụ kinh tế. Bây giờ chúng tôi thực hiện chính sách ngoại giao toàn diện, họ phải học thêm các hàm lượng về văn hóa.

Tôi nhấn mạnh, ngoại giao văn hóa là của tất cả đối tượng, doanh nghiệp, các nhà văn hóa, những người lao động ở  nước ngoài, chứ không chỉ là tùy viên văn hóa làm được. Hiệu quả hay không, là tùy viên đó ở tư cách nhà quản lí, triển khai huy động mọi người cùng làm, mới tạo ra lực cộng hưởng.

Như vậy là các nhà ngoại giao triển khai bằng cách dựa vào lực của các hội khác. Như là Hội nhà văn gửi sách sang, chúng tôi gửi sách vào các thư viện, trường ĐH, tạo cơ hội cho nhiều người sang nói về văn hóa Việt Nam. Họ là người triển khai chứ không phải thực hiện.

Phần đọng lại về văn hóa chính nhờ các Việt kiều

Nhà  báo Nguyễn Quang Thiều: Những người VN ở nước ngoài, người du lịch, du học sinh, người đi công tác cũng đều rất quan trọng.

Một lực lượng quan trọng là kiều bào của chúng ta sống ở nước ngoài. Có nhiều triệu người đang định cư ở nước ngoài. Tại  đó, những người VN có  thể sống 40 năm ở  đó, nhưng vẫn có khát khao bày tỏ bản sắc dân tộc VN trong nghệ thuật, sáng tạo, văn hóa, ẩm thực... Họ lan tỏa vẻ đẹp, tinh thần người VN.

Có  bao giờ chúng ta đặt vấn  đề là phát triển ngoại giao văn hóa bằng chính những người này?

Ông Phạm Sanh Châu: Bộ chúng tôi quán triệt điều đó. Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã giao cho cán bộ phụ trách công tác Việt kiều, kết hợp với phụ trách công tác ngoại giao văn hóa. Hai lĩnh vực này gắn bó với nhau.

Chúng ta có Nghị  quyết của Bộ Chính trị 36, công nhận người Việt là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng người VN.

Người VN ở nước ngoài là người quảng bá hình ảnh VN tốt nhất. Chúng ta có hơn 4 triệu người ở hơn 100 quốc gia. Mà cán bộ ngoại giao chỉ có cùng lắm chưa đến 1 ngàn người, 3 năm thay đổi một lần.

Chính người VN ở  nước ngoài là lực lượng triển khai hiệu quả ngoại giao văn hóa, giúp chúng ta giữ gìn bản sắc văn hóa, ít bị tác động hơn cả. Người Việt ở nước ngoài rất cố gắng giữ gìn bản sắc. Do vậy, họ không chỉ là người thừa hưởng chính sách ngoại giao văn hóa, khi mang các đoàn nghệ thuật sang biểu diễn cho bà con xem, mà họ chính là người nấu các món ăn, mặc các trang phục để quảng bá, giữ gìn bản sắc tiếng Việt, kể các truyền thống của chúng ta.

Những người sang giới thiệu một vài tuần, vài tháng, triển lãm, biểu diễn trong thời gian ngắn, cái còn đọng lại là Việt kiều.

Các tác phẩm văn học là đội quân mạnh mẽ. Có thời điểm thế  giới đánh giá cao chủ tịch Hồ Chí  Minh và đại tướng Võ Nguyên Giáp, vì thời  điểm đó chúng ta tuyên truyền tốt các ấn phẩm. Các câu chuyện về VN qua tác phẩm là ăn đậm nhất.

Có những bộ  phim, câu chuyện về Tướng về hưu là được nói rất nhiều. Phim Indochine và phim Lamount, thì  làn sóng du lịch bùng nổ từ Pháp về VN.

Đó là những cái mà chúng ta nắm được. Người VN sống ở nước ngoài là lực lượng quan trọng. Vì thế, trong Bộ NG có Ủy ban nhà nước về người VN ở nước ngoài, thứ trưởng phụ trách Ủy ban đó, đồng thời phụ trách công tác ngoại giao văn hóa của Vụ chúng tôi. Ngoài ra, còn có Vụ Văn hóa thông tin, chuyên phụ vụ về thông tin và văn hóa cho người VN ở nước ngoài, giúp phát huy và lan tỏa.

Việt Nam thay đổi không sàng lọc

Nhà  báo Nguyễn Quang Thiều: Trong cộng đồng người VN ở nước ngoài, tinh thần, hồn cốt, bản sắc được lưu giữ vô cùng kỹ lưỡng . Điều này trùng với nghiên cứu gần đây của tôi. Khi sống ở những nền văn hóa khác, người Việt Nam thấy nguy cơ văn hóa của mình bị tấn công, bị đồng hóa, bị phá vỡ. Và họ bảo vệ nó một cách tinh khiết nhất. Đó là các kiều bào. Còn người trong nước thì chủ quan. Và chúng ta mất dần đi trong đời sống hàng ngày.

Tôi rất mừng là đó cũng là chính sách của Bộ Ngoại giao. Tôi cho đây là một chiến lược lớn, một chính sách của sự hiểu biết .

Thưa nhà  thơ Trần Quang Quý, ông có đồng ý là chính nơi đây, chúng ta đang đánh mất bản sắc nhất? Vì chúng ta không nhận ra điều đó? Trong khi những truyền thống gia đình tôi nhìn thấy ở nước ngoài là hết sức xúc động và sâu sắc. Phải chăng Văn hóa VN đang trú ngụ nơi đó chăng ?

Nhà  thơ Trần Quang Quý: Điều đó đúng. Các cộng đồng người Việt ở nước ngoài, họ đối diện ngay với văn hóa khác mình, họ phải giữ gìn bản sắc văn hóa của quốc gia mình. Nhưng ở trong nước, người ta vô cùng chủ quan.

Cái tùy tiện nhất của chúng ta là lối sống. Gần đây, nhiều người nước ngoài vốn có cảm tình với VN cũng phải nói là 10 gần đây có nhiều thay đổi. Thanh niên tiếp thu tốt ngoại ngữ, công nghệ thông tin tốt, nhưng sự thay đổi về văn hóa diễn ra quá nhanh. Phụ nữ mặc váy ngắn hơn, áo hở hơn... sự thay đổi rất nhanh.

Những thay đổi đó không có sự sàng lọc.

Cùng với chiến lược văn hóa, phải có chiến lược về truyền thồng, giáo dục. Phải bồi dưỡng tâm hồn con người bằng môi trường giáo dục.

Ở Singapore, giáo dục cho trẻ, đầu tiên là làm người, trách nhiệm cho chính mình, sau đó đến gia đình, người thân, xã hội.

Nhà  báo Nguyễn Quang Thiều: Bàn tròn của chúng ta hôm nay đã khá dài, khi mọi người rất bận rộn. Có thể đi đến thống nhất là việc đối ngoại, xây dựng hình ảnh văn hóa VN là quan trọng. Chúng ta vẫn tiếp nối truyền thống ông cha. Có những giai đoạn phải có ứng biến phù hợp, nhưng nhất nhất phải luôn bày tỏ trí tuệ, tư cách, lòng yêu dân tộc này.

Công việc đối ngoại, ngoại giao không của riêng Bộ ngoại giao, hay của tổ  chức nghệ thuật, nhà văn nào. Mà là của người đạp xích lô bên cửa sách sạn, một lễ tân, một người bán phở... và mọi người khác, ở những nơi nào mà chúng ta phải tiếp túc với thế giới bên ngoài.

Lòng tự trọng của dân tộc là rất lớn. Có thể có lúc nào  đó chúng ta bị chao đảo, nhưng nó luôn bền vững như nền văn hóa bên vững của chúng ta.

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu