Cơ duyên giữa nền ngoại giao và truyền thông mới
Nền “ngoại giao mới” được phát triển 2 phần chính: phơi bày mọi cuộc đàm phán cho giới truyền thông và các cuộc đối thoại trực tiếp giữa các lãnh đạo cấp cao nhằm tìm kiếm lối thoát cho các cuộc xung đột và thậm chí là khả năng hòa giải lâu dài.
Ngày nay, lãnh đạo trên thế giới sử dụng truyền thông toàn cầu một cách rộng rãi như là một phương tiện quan trọng để tạo lợi thế trong đàm phán và huy động sự ủng hộ cho các thỏa thuận.
"Ngoại giao con thoi" phá vỡ thế bế tắc
“Ngoại giao truyền thông” là khái niệm thích hợp nhất để phân tích những mục đích đó. Chẳng hạn như Ebo định nghĩa nó quá rộng – là “việc sử dụng truyền thông để thúc đẩy và ráp nối chính sách đối ngoại”.
Còn một cách định nghĩa khác cụ thể hơn và hữu dụng hơn, là: Ngoại giao truyền thông ám chỉ việc các lãnh đạo sử dụng truyền thông để biểu đạt các mối quan tâm trong đàm phán, để xây dựng sự tin tưởng, và để huy động sự ủng hộ của công chúng cho các thỏa thuận.
Ngoại giao truyền thông được duy trì thông qua các chuỗi hoạt động truyền thông đa dạng, liên tục và đặc biệt, bao gồm các cuộc họp báo, các buổi phỏng vấn, tiết lộ các thông tin quan trọng, các chuyến thăm của nguyên thủ và những người trung gian giữa các quốc gia đối đầu, và các hoạt động truyền thông lớn gây sự chú ý để báo hiệu trong một thời kỳ mới.
Việc sử dụng truyền thông cho các mục đích quan trọng đã được mọi người biết đến trong nhiều năm qua.
Trong bối cảnh thiếu các kênh truyền thông thích hợp, hoặc khi một bên không rõ bên kia sẽ phản ứng ra sao trước các điều kiện đàm phán hoặc để đề xuất giải pháp cho xung đột, các quan chức thường viện đến phương tiện truyền thông, đi kèm hoặc không cần đi kèm với quyền hạn, để truyền tải thông điệp tới lãnh đạo của nhà nước đối đầu và các thành phần khác.
![]() |
|
Henry Kissinger gặp Chủ tịch Mao Trạch Đông. |
Sau cuộc chiến Arập - Israel vào năm 1973, Kissinger đã sử dụng nhuần nhuyễn phương tiện truyền thông để đưa ra các tín hiệu cũng như gây sức ép cho các đề xuất trong suốt quá trình hoạt động “ngoại giao con thoi” nổi tiếng và thành công của mình.
Ông thường xuyên gửi các cán bộ ngoại giao của Mỹ đi kèm trên chuyến bay của mình để thu thập các thông tin bên lề, các báo cáo, và tin tức rò rỉ hầu như nhằm moi được những sự nhượng bộ từ phía đối tác đàm phán và phá vỡ thế bế tắc.
Truyền thông mới: Phơi bày tất cả
Trong những năm gần đây, các lãnh đạo sử dụng truyền thông toàn cầu hơn là các kênh ngoại giao truyền thống để truyền đi các thông điệp nhằm thay đổi một hình ảnh hoặc mở ra một trang mới.
Chẳng hạn, vào tháng Một năm 1998, Tổng thống mới đắc cử khi đó là Mohammed Khatami đã chọn kênh CNN để gửi đi thông điệp hòa giải tới Hoa Kỳ.
CNN và các báo in trên thế giới đã cả thông báo cho công chúng toàn cầu từ trước khi diễn ra buổi phỏng vấn này và ngay sau đó, buổi phỏng vấn đã trở thành một đề tài tranh luận nóng bỏng.
Nền “ngoại giao mới” được phát triển trong suốt thế kỷ 20 có 2 phần chính: phơi bày mọi cuộc đàm phán cho giới truyền thông và các cuộc đối thoại trực tiếp giữa các lãnh đạo cấp cao.
Có thể nói, hơn bất kể các hiện tượng khác, các cuộc gặp gỡ giữa các lãnh đạo then chốt nhằm tìm kiếm lối thoát cho các cuộc xung đột và thậm chí là khả năng hòa giải lâu dài đã chứng minh một cách sinh động cho sự kết hợp của hai thành phần trên.
Dựa trên bối cảnh và các điều kiện, rất nhiều trong số các cuộc họp thượng đỉnh trên – chẳng hạn như hội nghị giữa Hoa Kỳ và Liên Xô và lễ kỷ niệm nhân dịp thỏa thuận hòa bình được ký kết giữa những người từng là kẻ thù – chính là những sự kiện trọng đại của truyền thông.
Xét cho cùng, các sự kiện trọng đại của truyền thông đã thể hiện rõ nét nhất cái gọi là ngoại giao truyền thông. Đó là những chương trình phát sóng trực tiếp, được tổ chức bên ngoài cơ quan truyền thông, được lên kế hoạch từ trước, và trình chiếu một cách trọng thể.
Việc đưa tin trực tiếp các sự kiện truyền thông làm gián đoạn lịch phát sóng và thu hút lượng lớn công chúng trên khắp thế giới.
Sử dụng giới truyền thông điêu luyện
Các quan chức có thể sử dụng các sự kiện truyền thông để gây dựng nên sự ủng hộ của công chúng cho tiến trình hòa bình sau kết luận của giai đoạn ban đầu, nhưng trước khi chuyển sang một giai đoạn tiếp theo.
Điều này chủ yếu xuất hiện trong trường hợp có được sự đột phá nhất định, nhưng các bên vẫn còn cả chặng đường dài phải đi tiếp trước khi chuyển bản tuyên bố về nguyên tắc thành một thỏa thuận hòa bình hợp pháp vĩnh viễn.
Hiệu quả của một sự trung gian như vậy có thể phát huy tác dụng trong việc huy động sự ủng hộ tích cực của công chúng trong xã hội có liên quan tới bước tiếp theo của cuộc đàm phán.
Các hội nghị giữa Gorbachev và Reagan cũng như với Bush (cha) đã cho thấy hai siêu cường đã khai thác giới truyền thông điêu luyện như thế nào trong giai đoạn chuyển đổi từ chiến tranh Lạnh sang giai đoạn hậu chiến.
Các cuộc hội nghị trên đều phản ánh những thay đổi lớn lao trong các mối quan hệ giữa siêu cường. Vì là các sự kiện truyền thông nên họ thúc đẩy các cá nhân, các nhóm, và các quốc gia “đánh giá lại các mối quan hệ của mình với những người khác trong các hoạt động diễn ra trực tiếp ngay trước mắt của họ”.
![]() |
| Tin về lễ nhậm chức của tổng thống Mỹ Obama tràn ngập trên thế giới truyền thông. (Ảnh: businessweek.com) |
Chuyến viếng thăm lịch sử của Sadat tới Jerusalem hồi tháng Mười Một năm 1977 và hội nghị hòa bình Madrid chứng minh tác động ban đầu của việc sử dụng sự kiện truyền thông để tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc đàm phán.
Các lễ ký kết của ba tài liệu quan trọng cho thấy tác dụng của việc trung gian hòa giải: Hiệp ước Trại David hồi tháng Chín năm 1978, Tuyên bố về Nguyên tắc giữa PLO-Israel hồi tháng Chín năm 1993, và Tuyên bố Israel-Jordan và Washington hồi tháng Bảy năm 1994.
Các lễ ký kết của hai hiệp định này minh chứng cho “tác động hàn gắn” của các sự kiện truyền thông: Hiệp ước Hòa bình Israel – Ai Cập hồi tháng Ba năm 1979 và Hiệp ước Hòa bình Israel – Jordan hồi tháng Mười 1994.
Ba vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Trong khi sử dụng lý thuyết về sự kiện truyền thông để khám phá vai trò của truyền thông toàn cầu mang lại kết quả tích cực và thú vị, vẫn cần phải nghiên cứu thêm về ba vấn đề.
Thứ nhất, các sự kiện truyền thông không phải lúc nào cũng thành công – thí dụ như trong trường hợp hội nghị Madrid Arap-Israel do Mỹ bảo trợ.
Các mánh khóe kém hiệu quả hơn rất nhiều khi được tận dụng quá thường xuyên và hiệu ứng đột phát bị loãng dần.
Thứ hai, các sự kiện truyền thông hoàn toàn bị chính trị gia và quan chức kiểm soát về thời điểm, địa điểm và cách họ trình diễn trước ống kính máy quay. Các quan chức từ đó sẽ đóng vai trò như là các nhà sản xuất hàng đầu và các đạo diễn truyền hình khi mà vai trò của các nhà báo chỉ xuống hàng thứ yếu, hoặc chỉ có tác dụng hỗ trợ.
Trong những điều kiện đó, các nhà báo có thể bị lấn át và mất dần khả năng đưa ra đánh giá một cách công bằng về sự kiện và các tác động của nó.
Thứ ba, lý thuyết về sự kiện truyền thôn tập trung vào sự kiện vào thời điểm nó diễn ra. Điều cần thiết là phải nhìn vào sự kiện truyền thông từ cả bối cảnh về thời gian, chủ yếu là để xác định các tác động của chúng trong thời gian lâu dài.

